05-07-2022

11 Nhà đầu tư huyền thoại

Benjamin Graham 

Ben Graham xuất sắc với vai trò là nhà quản lý đầu tư và nhà giáo dục tài chính. Ông cũng được mọi người công nhận là cha đẻ của hai lĩnh vực đầu tư cơ bản - phân tích chứng khoán và đầu tư giá trị.

Bản chất của đầu tư giá trị của Graham là bất kỳ khoản đầu tư nào cũng phải đáng giá hơn đáng kể so với việc nhà đầu tư phải trả cho nó. Ông tin tưởng vào phân tích cơ bản và tìm kiếm những công ty có bảng cân đối kế toán mạnh, hoặc những công ty có ít nợ, tỷ suất lợi nhuận trên mức trung bình và dòng tiền dồi dào.

John Templeton
Người ta nói về John Templeton là một trong những nhà đầu tư trái ngược hàng đầu thế kỷ; ông đã mua thấp trong thời kỳ suy thoái, bán cao trong thời kỳ bùng nổ Internet. Templeton đã tạo ra một số quỹ đầu tư quốc tế lớn nhất và thành công nhất trên thế giới. Ông đã bán quỹ Templeton của mình vào năm 1992 cho Tập đoàn Franklin. Năm 1999, tạp chí Money gọi ông là "người chọn cổ phiếu toàn cầu vĩ đại nhất thế kỷ." Là một công dân Anh nhập tịch sống ở Bahamas, Templeton được Nữ hoàng Elizabeth II phong tước hiệp sĩ vì nhiều thành tích của mình

Thomas Rowe Price Jr.
Thomas Rowe Price Jr. được coi là "cha đẻ của đầu tư tăng trưởng". Ông đã trải qua những năm tháng vật lộn với cuộc suy thoái và bài học mà ông rút ra là không nên bỏ qua cổ phiếu mà hãy nắm lấy chúng dựa trên giá của cổ phiếu theo chu kỳ của thị trường. Ông thường đầu tư vào các công ty tốt trong dài hạn, điều mà hầu như chưa từng có vào thời điểm này. Triết lý đầu tư của ông là các nhà đầu tư phải tập trung nhiều hơn vào việc chọn cổ phiếu riêng lẻ trong dài hạn. Kỷ luật, quy trình, tính nhất quán và nghiên cứu cơ bản đã trở thành nền tảng cho sự nghiệp đầu tư thành công của ông.

John Neff
Neff gia nhập Wellington Management Co. vào năm 1964 và gắn bó với công ty hơn 30 năm, quản lý ba quỹ của công ty. Chiến thuật đầu tư ưa thích của ông là đầu tư vào các ngành phổ biến thông qua con đường gián tiếp và ông được coi là một nhà đầu tư giá trị khi tập trung vào các công ty có hệ số P / E thấp và lợi tức cổ tức cao. Ông đã điều hành Quỹ Windsor trong 31 năm (kết thúc vào năm 1995) và kiếm được lợi nhuận là 13,7%, so với 10,6% của S&P 500 trong cùng khoảng thời gian. Con số này dẫn đến lợi nhuận gấp hơn 53 lần khoản đầu tư ban đầu được thực hiện vào năm 1964.

Jesse Livermore
Jesse Livermore không có trình độ học vấn chính thống hay kinh nghiệm giao dịch cổ phiếu. Ông tự học hỏi từ những người chiến thắng cũng như những người thua cuộc. Chính những thành công và thất bại này đã giúp cho những ý tưởng kinh doanh xi măng vẫn có thể tìm thấy trên khắp thị trường ngày nay. Livermore bắt đầu giao dịch cho chính mình từ những năm đầu tuổi thiếu niên, và đến năm 16 tuổi, ông đã đạt được lợi nhuận hơn USD 1.000, đây là một khoản tiền lớn trong những ngày đó. Trong vài năm tiếp theo, anh ấy đã kiếm tiền bằng cách đặt cược vào cái gọi là "bucket shops”.

Peter Lynch
Peter Lynch quản lý Quỹ Fidelity Magellan từ năm 1977 đến năm 1990, trong đó tài sản của quỹ tăng từ 18 triệu đô lên 14 tỷ đô. 

Thường được mô tả như một con tắc kè hoa, Peter Lynch thích nghi với bất kỳ phong cách đầu tư nào hoạt động vào thời điểm đó. 

George Soros
George Soros là một bậc thầy trong việc chuyển các xu hướng kinh tế tổng thể thành các trò chơi mạo hiểm có đòn bẩy cao trong trái phiếu và tiền tệ.  Soros là một nhà đầu cơ ngắn hạn, đặt cược rất lớn vào các hướng đi của thị trường tài chính. Năm 1973, George Soros thành lập công ty quỹ đầu cơ Soros Fund Management, công ty này cuối cùng đã phát triển thành Quỹ lượng tử nổi tiếng thế giới. Trong gần hai thập kỷ, ông đã điều hành quỹ đầu cơ tích cực và thành công này, được báo cáo là đã thu về lợi nhuận vượt quá 30% mỗi năm và hai lần, công bố lợi nhuận hàng năm hơn 100%.

Warren Buffett
Được gọi là "Nhà tiên tri của Omaha", Warren Buffett được coi là một trong những nhà đầu tư thành công nhất trong lịch sử.

Tuân theo các nguyên tắc do Benjamin Graham đưa ra, ông đã tích lũy được khối tài sản hàng tỷ đô la chủ yếu thông qua việc mua cổ phiếu và công ty thông qua Berkshire Hathaway. Những người đầu tư 10.000 đô la vào Berkshire Hathaway năm 1965 cao hơn mốc 165 triệu đô la ngày nay.7 8

Phong cách đầu tư kỷ luật, kiên nhẫn và giá trị của Buffett đã liên tục vượt trội so với thị trường trong nhiều thập kỷ.

John (Jack) Bogle
Bogle thành lập công ty quỹ tương hỗ Vanguard Group vào năm 1975 và trở thành một trong những nhà tài trợ quỹ lớn nhất và được kính trọng nhất trên thế giới. Bogle đi tiên phong trong quỹ không thu phí bán và vô địch về đầu tư chỉ số chi phí thấp cho hàng triệu nhà đầu tư. Ông đã tạo và giới thiệu quỹ chỉ số đầu tiên, Vanguard 500. Vào năm 1976. Triết lý đầu tư của Jack Bogle ủng hộ việc nắm bắt lợi nhuận thị trường bằng cách đầu tư vào các quỹ tương hỗ chỉ số trên diện rộng được đặc trưng là không tải, chi phí thấp, doanh thu thấp và thụ động được quản lý.

Carl Icahn
Carl Icahn là một nhà đầu tư chủ động và ngoan cường. Ông luôn sở hữu vị trí cao trong các công ty đại chúng để buộc phải thay đổi nhằm tăng giá trị cổ phiếu của mình. Icahn bắt đầu các hoạt động công ty của mình một cách nghiêm túc vào cuối những năm 1970 và đạt được các giải đấu lớn với việc tiếp quản TWA thù địch của mình vào năm 1985. Icahn nổi tiếng nhất với "Icahn Lift." Đây là câu cửa miệng của Phố Wall mô tả giá cổ phiếu của một công ty đi lên, thường xảy ra khi Carl Icahn bắt đầu mua cổ phiếu của một công ty mà anh ta tin là quản lý kém.

William H. Gross
Được coi là "vua của trái phiếu", Bill Gross là nhà quản lý quỹ trái phiếu hàng đầu thế giới. Là người sáng lập và giám đốc điều hành của gia đình quỹ trái phiếu PIMCO, ông và nhóm của mình có hơn 1,92 nghìn tỷ đô la tài sản thu nhập cố định đang được quản lý.

Đầu tư không khó
Đã có topi

Hỗ trợ

CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VAM

Tầng 11, Tháp văn phòng quốc tế Hòa Bình, 106 đường Hoàng Quốc Việt, Phường Nghĩa Đô, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội

1900636977

[email protected]